Chủ Nhật, 12 tháng 5, 2013


Có một học thuyết quân sự Việt Nam

ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP
    Ngày 21.9.1996, tại Hội thảo “Học thuyết quân sự Việt Nam”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có bài nói chuyện mở màn. Qua đó, ông đề xuất việc triển khai nghiên cứu vấn đề này thành đề tài nghiên cứu cấp nhà nước. Chuyên trang Hồ sơ – Sự kiện của Báo Lao Động thứ 7 xin trân trọng giới thiệu một phần bài phát biểu quan trọng này.
    Hình thành học thuyết từ thời phong kiến
    Đã hơn một lần tôi đặt vấn đề về việc: Có học thuyết quân sự Việt Nam hay không, trên Tạp chí Quốc phòng toàn dân. Hôm nay, tôi nói một cách khẳng định là có.

    Tôi xin kể một câu chuyện: Năm 1971, tôi được Bộ Chính trị cử sang Liên Xô để đề nghị thêm viện trợ. Lúc đó Mỹ đang gia tăng máy bay B.52, C.130, các phương tiện chiến tranh điện tử để đánh ta... Đồng chí Côxưghin hỏi tôi: "Tôi xin hỏi đồng chí Giáp, đồng chí nói, các đồng chí đánh thắng Mỹ. Tôi muôn biết, các đồng chí có bao nhiêu sư đoàn bộ binh cơ giới, Mỹ có bao nhiêu? Xe tăng, pháo hạng nặng, máy bay chiến đấu các đồng chí có bao nhiêu, Mỹ bao nhiêu? Tất cả khả năng phòng không, khả năng về tên lửa, về thông tin, về rađa của các đồng chí như thế nào? Đồng chí nói qua cho tôi biết".

    Tôi nói: "Tôi hiểu câu hỏi của đồng chí... Đồng chí hỏi về vấn đề so sánh lực lượng. Theo học thuyết quân sự Xôviết là như vậy. Nhưng nếu chúng tôi đánh theo cách đánh của các đồng chí thì chúng tôi không đứng nổi được hai tiếng đồng hồ! Nhưng chúng tôi đánh theo cách khác - cách đánh của Việt Nam - và chúng tôi sẽ thắng". Sau năm 1975, có dịp trở lại Liên Xô và gặp lại đồng chí Côxưghin, đồng chí ấy nói vui vẻ: "Việt Nam các đồng chí thắng to quá, như thế tốt quá". Rõ ràng là chúng ta có cách đánh khác. Và đương nhiên, cách đánh của ta có học tập, vận dụng học thuyết quân sự Mác – Lênin, kế thừa truyền thống quân sự của dân tộc ta và học tập kinh nghiệm đấu tranh quân sự của các nước khác.

    Tôi đọc Ph. Ăngghen, ông có nói rằng, đứng về quân sự mà nói thì có những dân tộc có tư chất quân sự riêng của mình. Từ trước đến nay, tôi vẫn nghĩ: Cách đánh giặc thì chúng ta có cách đánh khác, cách đánh của Việt Nam. Bây giờ kể từ chuyện to cho đến chuyện nhỏ thì thấy rằng, chúng ta biết đánh theo cách riêng của mình, chứ không thì cũng khó mà đánh thắng.

    Đất nước Việt Nam là một cộng đồng dân tộc hình thành quốc gia - dân tộc rất sớm, trong lịch sử cộng đồng dân tộc ấy đã từng chống thiên nhiên khắc nghiệt, chống kẻ thù ngoại xâm mạnh hơn mình... Là một dân tộc như vậy, cho nên từ xa xưa đã tạo nên một nền văn hóa Việt Nam, hạt nhân của nó là tinh thần đấu tranh để làm chủ thiên nhiên, gắn với truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh; tinh thần đấu tranh chống ngoại xâm để giữ vững độc lập, chủ quyền, gắn liền với huyền thoại Phù Đổng. Vì vậy, dân tộc ta là một dân tộc có tinh thần làm chủ đất nước rất cao, đấu tranh bất khuất.

    Trải qua hàng ngàn năm bị đô hộ, dân tộc ta đã tìm tòi và sáng tạo ra cách đánh riêng từ thời đánh quân Đồ Thư, cho đến thời Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa...

    Có thể nói, một ngàn năm bị kẻ thù đô hộ và có mưu đồ đồng hóa rất rõ ràng, nhưng cộng đồng các dân tộc ở trên đất nước ta đã giữ vững tinh thần làm chủ, tìm ra cách đánh kẻ thù. Lúc đó đã có những thắng lợi, nhưng mốc thắng lợi từng thời gian, về sau thời gian giữ được độc lập, chủ quyền càng ngày càng dài. Ví dụ, nhà nước Vạn Xuân, giữ vững độc lập chủ quyền được đến mấy chục năm. Sau đó tuy bị đô hộ một ngàn năm, nhưng cuối cùng dân tộc ta đã giành được độc lập.

    Như vậy thời kỳ này tổ tiên ta đã tìm tòi, sáng tạo ra cách đánh của ta, thắng lợi đó đã thể hiện được "nhỏ thắng lớn". Thắng được là do chúng ta có tinh thần độc lập tự chủ, đấu tranh bất khuất. Điều đó thể hiện ngay từ trong thần thoại cho đến bây giờ. Đi đâu chúng ta cũng thấy các miếu mạo không những thờ Hai Bà Trưng, mà cả những nữ tướng của Hai Bà. Từ đó có thể nói, nước ta đã giữ vững được văn hóa dân tộc (văn hóa theo nghĩa rộng), mất văn hóa là mất nước, dân tộc ta giữ vững văn hóa của mình, hoàn thiện thêm mãi, cho nên đã đánh bại được âm mưu đồng hóa.

    Hiện nay, ở Trung Quốc có một nhóm nghiên cứu: "Vì sao dân tộc Việt Nam bị xâm lược nhiều lần mà vẫn tồn tại, giữ được bản sắc?". Cái đó chứng tỏ sức sống của văn hóa dân tộc ta với bản sắc riêng. Nhờ vậy, tổ tiên ta đã giữ vững được nền độc lập gần một ngàn năm, từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX chống lại sự xâm lược và mưu đồ đồng hóa của phong kiến phương Bắc. Thời kỳ này nước nhà tuy được độc lập, cũng có lúc bị đô hộ, nhưng đã đánh thắng nhiều đội quân xâm lược mạnh hơn ta nhiều lần. Quân Mông - Nguyên đã từng làm chủ Trung Quốc, nhưng sang đánh Việt Nam thì bị thất bại nhục nhã.

    Thời phong kiến, ta có Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung và có thể nói, ngay từ thời đó đã hình thành học thuyết quân sự Việt Nam. Sự hình thành đó thể hiện quân sự là sự kế tục chính trị bằng thủ đoạn khác (theo Claudơvít mà cũng là theo chủ nghĩa Mác - Lênin). Chúng ta đã đi đến Tuyên ngôn độc lập thứ nhất "Nam quốc sơn hà". Nhân tố này thể hiện một bước phát triển cả về văn hóa và quân sự.

    Tiếp đó đến Trần Hưng Đạo, với “Hịch tướng sĩ”, kêu gọi quân quan "đi thủy ta cho thuyền, đi bộ ta cho ngựa"... đó là một bài hịch nổi tiếng của một lãnh chúa phong kiến; chúng ta cũng đã có Hội nghị Diên Hồng, thể hiện tinh thần yêu nước, căm thù giặc sâu sắc ở việc thích chữ "Sát Thát" vào cánh tay. Hịch Trần Quốc Tuấn thể hiện tinh thần quyết chiến, quyết thắng của tổ tiên, thể hiện tư tưởng "Đoản binh thắng trường trận".

    Đến đây, thực tế là hình thành học thuyết quân sự Việt Nam, nhưng còn những hạn chế của nó. Đến Lê Lợi, Nguyễn Trãi với “Bình Ngô đại cáo” và các bài viết về quân sự, học thuyết quân sự của dân tộc đã phát triển lên một bước mới. Bản hùng văn đã nói đến "bốn phương manh lệ" tụ tập lại, nó nói lên tính nhân dân rộng rãi, không những thế, còn tổng kết được "lấy ít đánh nhiều, lấy yếu chống mạnh" trên cơ sở lấy nhân nghĩa thắng bạo tàn.

    Lúc này bản “Bình Ngô đại cáo” đã nâng cao một bước chất lượng của học thuyết quân sự của dân tộc Việt Nam, của nước Đại Việt, đưa ra một định nghĩa về dân tộc, về đất nước, trải qua các triều đại là Triệu, Đinh, Lê và Lý, Trần, Lê. Đứng trên lập trường của phép biện chứng duy vật mà xem xét thì Nguyễn Trãi đã nêu lên một khẩu hiệu vượt thời đại: "Thái bình muôn thuở, tắt lửa chiến tranh", nếu thắng thì trong hang cùng ngõ hẻm đều yên ổn nghe tiếng nhạc thái bình.

    Trước thời Quang Trung, có giai đoạn Trịnh - Nguyễn phân tranh, là giai đoạn cần tách ra để nghiên cứu trong chuyên đề này. Người anh hùng áo vải đã kêu gọi nông dân đứng lên khởi nghĩa, lôi cuốn đông đảo quần chúng. Nhưng thiên tài Nguyễn Huệ vẫn có những hạn chế về giải quyết vấn đề ruộng đất, không đề ra được khẩu hiệu ruộng đất, nhưng về cách đánh giặc thì đã phát triển nhiều so với các giai đoạn trước.

    Thế là trong thời đại Đại Việt, học thuyết quân sự Việt Nam đã hình thành và phát triển dựa trên đường lối chính trị với nền tảng dân tộc, khẳng định nước Nam anh hùng là có chủ.

    Lịch sử Việt Nam là một lịch sử oanh liệt, lấy ít đánh nhiều, lấy yếu chống mạnh, trên cơ sở "Nam quốc sơn hà Nam đế cư", quyền độc lập tự chủ, trên cơ sở nhân nghĩa thắng bạo tàn. Như vậy, rõ ràng là có một học thuyết quân sự Việt Nam. Trong lịch sử, chiến tranh du kích có ở nhiều nưóc, nhưng để đánh bại được quân xâm lược lớn thì theo tôi được biết, hiếm có nước nào có những thành công như nước ta. Hôm nọ chiêu đãi ở Phủ Chủ tịch, đồng chí Phiđen Caxtơrô nói đại thể: Tôi đọc lịch sử chiến tranh, từ trước đến nay chưa từng có cuộc chiến tranh nào mà một nước nhỏ, kinh tế lạc hậu như nước Việt Nam mà vẫn đánh thắng Pháp và Mỹ; đây là vô song, trên thế giới chưa có; trong lịch sử tôi chưa thấy...
    Không quân Việt Nam tập luyện cho đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội.

    Phát triển tới đỉnh cao trong thời hiện đại

    Trong phong trào chống thực dân Pháp xâm lược, ngoài Bắc có Hoàng Hoa Thám, ở trong Nam có Trương Định, tinh thần anh dũng thì có thừa, cách đánh lại vận dụng cách đánh cả của thời trước. Đinh Công Tráng, Phạm Bành, Nguyễn Thiện Thuật đã lợi dụng địa hình để kháng chiến; Phan Đình Phùng đã đánh theo lối đánh du kích có khi tập trung, có khi giữ vững căn cứ, cũng có khi đánh vào đô thị, đánh xuống thị xã Hà Tĩnh và có ý định đánh xuống cả Vinh. Nghiên cứu quân sự thời Phan Đình Phùng thấy rất giỏi, biết phát huy tất cả những cái từ trước. Còn Hoàng Hoa Thám, lãnh đạo nghĩa quân chiến đấu suốt 30 năm. Có thể nói, ông cha ta thời đó vẫn kế tục những kiến thức quân sự từ trước, có tư tưởng độc lập, tinh thần đấu tranh bất khuất.

    Cho đến thời điểm lịch sử Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đi đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tinh thần dân tộc, chủ nghĩa yêu nước chân chính gặp chủ nghĩa quốc tế vô sản, đề ra đường lối cứu nước, con đường giải phóng dân tộc duy nhất đúng đắn là "con đường cách mạng vô sản". Như vậy, mục tiêu chính trị là độc lập, chủ quyền cho dân tộc lại mang lại ruộng đất cho dân cày và hạnh phúc cho nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội. 

    Đây là một chuyển biến về chất, cho nên với mục tiêu chính trị mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cuộc chiến tranh nhân dân phát triển đến đỉnh cao. Tôi càng nghiên cứu, càng thấy rõ hơn. Đúng là một cuộc chiến tranh toàn dân, thể hiện trong các nghị quyết của Đảng, trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, trong Tuyên ngôn độc lập, trong Hiến pháp đầu tiên nói về nhiệm vụ và quyền lợi của dân, quy định quyền tự do của người dân trong xã hội. Mục tiêu chính trị của Đảng khác trước; mục đích chính trị của chiến tranh là xuất phát từ mục tiêu chính trị đó.

    Đảng lãnh đạo cuộc chiến tranh nhân dân, và cuộc chiến tranh đó là của dân, do dân, vì dân. Vì thế, Đảng đã phát động được sức mạnh to lớn của toàn dân, không những trong những năm chiến đấu trong vòng vây, mà cả suốt những năm chống Pháp và can thiệp Mỹ, suốt 30 năm nhân dân ta đã đánh thắng hai đế quốc to. Điều đó thể hiện được sự phát triển mới truyền thống quyết chiến, quyết thắng, tinh thần đoàn kết, đại đoàn kết, sự thông minh, sáng tạo của dân tộc. Một chính khách cao cấp Mỹ có nói: Nếu các ngài chỉ anh hùng không thôi thì chúng tôi đánh bại, nhưng dân tộc các ngài rất thông minh.

    Ta động viên toàn dân rộng rãi như vậy, đến cao độ như vậy, phát huy sức sáng tạo đến như vậy của mỗi một người dân, của bộ đội, của lực lượng vũ trang, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy sức mạnh của cả dân tộc, của nhân dân cả nước được nhân lên gấp mấy lần. Học thuyết quân sự Việt Nam có một bước phát triển mới và có thể nói, đã trở thành một bộ phận trong học thuyết quân sự cách mạng chung của cả thế giới. Nhìn chung, lại thì từ thời đại Văn Lang, Đại Việt, Việt Nam đến thời đại Hồ Chí Minh; từ thuở có các cộng đồng dân tộc sống trên đất nước này cho đến khi địch, ta đều phong kiến và đến lúc ta còn phong kiến, địch là tư bản chủ nghĩa, đế quốc chủ nghĩa hiện đại nhất, chúng ta đã phát triển cách đánh truyền thống đến đỉnh cao mới.

    Rồi đây trong thời hòa bình, nói quốc phòng là phải quốc phòng toàn dân, mà phải có dự báo đến một chừng nào đó, đến sự phát triển tình hình thế giới và trong nước, tình hình kinh tế, xã hội, khoa học ở nước ta và của các thế lực thù địch. Nhìn chung thế giới bây giờ là công nghiệp, chắc các đồng chí đã đọc thông điệp của ông Bin Clintơn, đại thể nói: Cách đây một trăm năm, chúng tôi từ thời đại nông nghiệp chuyển sang thời đại công nghiệp, bây giờ chúng tôi từ thời đại công nghiệp chuyển sang công nghệ thông tin. Đến cuối thế kỷ XX thì tất cả học sinh các trường trung học đều liên hệ với mạng thông tin quốc tế. Tình hình bây giờ, cả vật chất và tinh thần đều có khác, cho nên ta nghiên cứu quốc phòng toàn dân thì phải nghiên cứu cả tình hình kinh tế - xã hội thế giới, trong nước và có dự báo từng bước.

    Tôi muốn nói thêm một điểm nữa, Ph.Ăngghen có nói: Trong chiến tranh có hai nhân tố quyết định: Một là con ngưòi, hai là vũ khí, hai nhân tố đều quan trọng nhưng cuối cùng con người là nhân tố quyết định. Trước chúng ta cũng có nói nhiều về vấn đề này, tôi có viết một bài trước Tết Mậu Thân, trong bài ấy đã đi đến kết luận: Ta đã đánh bại hai luận thuyết, một là luận thuyết vũ khí luận, vũ khí là quan trọng nhưng không phải quyết định; hai là luận thuyết về quân số, theo ta quân số ít có thể đánh thắng kẻ địch có quân số nhiều hơn.

    Tôi thấy các học giả tư sản nghiên cứu và rất coi trọng dự báo, ta làm chưa bằng họ, so với 50 viện của Mỹ nghiên cứu về Liên Xô thì ta cần phải tập trung sức nghiên cứu hơn nữa.

    Bây giờ, trong học thuyết quân sự Việt Nam, về kinh nghiệm chiến tranh, tôi muốn nói đến chiến tranh du kích ở Việt Nam. Bộ Chính trị lãnh đạo và chỉ đạo đấu tranh vũ trang vừa xuất phát từ đường lối cách mạng, vừa là dựa trên sự học tập quần chúng, đúc kết kinh nghiệm của quần chúng.

    Đơn cử một ví dụ, chẳng hạn như đánh máy bay bay thấp, một nhiệm vụ rất khó, dân quân, bộ đội mấy tháng không làm được. Ta theo dõi máy bay bay thấp của địch cả đêm cũng không thấy, đi đánh ban ngày cũng không phát hiện được mục tiêu. Bộ tư lệnh NATO cũng nói do rađa không phát hiện được nên đánh máy bay bay thấp là rất khó. Tôi theo dõi, suy nghĩ gần hai tháng, sau thấy có mấy đơn vị đánh được. Tôi đi vào Hà Tĩnh, tập trung độ 45-50 cán bộ và chiến sĩ đã đánh máy bay bay thấp. 

    Tôi hỏi từng người, thì có một em 18 tuổi - học sinh trung học - trả lời: "Em nghiên cứu thấy máy bay bay từ ngoài biển vào, đi qua dãy núi Thiên Nhẫn, lúc đến các eo thì nó hạ xuống. Em nghiên cứu 3 lần nắm được quy luật bay của chúng, thế là nắm cơm và đem súng trường lên đó nằm phục, thế là bắn rơi máy bay địch". Tôi mới vỗ vai cô gái và nói: "Em là một nhà triết học lớn, vì nhà triết học mới tìm ra quy luật, em tìm ra quy luật là giỏi!". Từ đó tôi mới bàn và phát triển lên, về tổ chức bộ đội và cách đánh, kết quả là đi đến ta đánh bại chiến thuật máy bay bay thấp của địch. Cho nên sự sáng tạo của quần chúng là rất to lớn. Tôi đã báo cáo với Bác, mang cả băng ghi âm để Bác nghe.

    Nói tóm lại, phải khẳng định có một học thuyết quân sự Việt Nam và tôi nghĩ rằng, theo học thuyết ấy không hề có chiến lược quân sự thuần túy, chiến lược của ta bao giờ cũng là chiến lược tổng hợp, cả chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao, văn hóa, một chiến lược toàn diện. Đây là một đề tài quan trọng, khá rộng. Đương nhiên phải hạn định phạm vi cho rõ. Vì vậy, ý kiến của tôi: Một là, khẳng định cần có đề tài này; hai là, đề tài này nên xác định là đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước.





    HAI BÀ TRƯNG ( BÀ TRƯNG TRẮC)


    “Kẻ đại gian ác từ lâu vốn lòng độc địa. Người có đức có nhân thường vẫn nuôi chí tiễu trừ. Mảnh hịch tre ruổi ngựa từ đêm, ba quân chấn động.

    Nước ta dựng nền thực từ thuở vua Hùng vỗ trị, khi ấy quan dân vui vẻ, mọi người êm ấm nhàn hạ, mưa thuận gió hòa, một thân lúa thẩy đều hai bông. Đời đời nối tiếp, ngàn thu lưu truyền. Đến đời An Dương Vương, qua đời Triệu Vũ Đế, chẳng may đức suy, gặp phải tai ách. Bọn Hi Tải, Chu Chương, Ngụy Lang thay nhau làm quận thú. Đám Đặng Nhượng, Tích Quang, Đỗ Mục nối tiếp làm châu mục. Dẫu tham lam, liêm khiết không giống nhau, nhưng chưa từng có kẻ nào bạo ngược, hà khắc quá lắm. 

    Tới nay yêu nghiệt họ Tô tham tàn ngang ngược, giết hại sinh linh, coi sừng tê, ngà voi làm quý. Khinh miệt hiền tài, lấy giống chó loài ngựa làm trọng. Khai mỏ vàng, khiến dân rét thấu xương, mặt vàng, da nứt. Mò ngọc châu, để người lặn vực thẳm, mò ngọc trong mồm rồng ngậm, trăm kẻ đi, một người về. Thuế má nặng nề phải nghiêng bồ vét bịch. Hình pháp phiền phức liên lụy từng nhà, từng xóm. Dân không sống được yên, vật phải dời chỗ ở!
       
    Ta vốn dòng dõi hoàng tộc, con cháu Hùng tướng, vì nghĩa trừ hại. Bọn các ngươi đều có trí khôn, lại cùng tiên tổ, thù nước phải báo. Hãy kề vai sát cánh mà giương cây cung mạnh, quét sạch bọn ngoại bang, lấy hết nước sông Thiên Hà mà rửa binh khí. Cơ nghiệp hùng vĩ do đó mà được tái tạo, nhân dân ly tán được yên vui.
      
     Bảo vệ xã tắc, gối đầu trên giáo mác, chính là lúc này đây. Hãy lập công danh để ghi vào sử sách, như thế chẳng tốt đẹp hay sao? Thảng hoặc kẻ nào còn hồ nghi, do dự thì xem hịch này sẽ được sáng tỏ. Các ngươi cần phải cố gắng lên !” (Theo Thiên Nam vân lục).







    Bài thơ thần "Nam quốc sơn hà"


    LÝ THƯỜNG KIỆT

    Bài thơ thần "Nam quốc sơn hà"
    "Nam quốc sơn hà" được xem như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta. Bài thơ đã khích lệ tinh thần đánh giặc của quân sĩ Đại Việt làm nên chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống Tống năm 1077.
    Cuối năm Bính Thìn (1076), nhà Tống ồ ạt đưa quân sang xâm lược nước ta. Quân đội Đại Việt lúc bấy giờ do Lý Thường Kiệt chỉ huy, tuy đã chủ động chuẩn bị đối phó từ trước, vẫn chống cự một cách rất khó khăn. Giặc tràn xuống bờ Bắc sông Cầu và đội quân tiên phong của chúng đã bước đầu chọc thủng được chiến tuyến Như Nguyệt. Chiến tuyến vỡ, một mảng quan trọng trong niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của quân sĩ ta cũng theo đó mà tan vỡ. Muốn giành lại được thế chủ động, trước phải đập tan đội quân tiên phong của giặc, mà muốn đập tan đội quân tiên phong này, trước phải tìm cách lấy lại và kích động mạnh mẽ tinh thần của quân sĩ. Nhận rõ điều đó, Lý Thường Kiệt đã bí mật đang đêm cho người vào đền thờ Trương Hát ở ngay bên bờ sông Cầu, đọc to bài thơ không đề sau đây:
    Phiên âm:
    Nam quốc sơn hà Nam đế cư, 
    Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
    Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
    Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
    Dịch thơ:
    Sông núi nước Nam, vua Nam(1) ở
    Rành rành ghi rõ ở sách trời.
    Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm,
    Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

    Binh sĩ nghe lời thơ, tinh thần phấn chấn hẳn lên, ai ai cũng cố sức đánh giặc. Đội quân tiên phong của nhà Tống bị đập tan, chiến tuyến sông Cầu cũng mau chóng được hàn lại. Giặc từ đó bị giam chân ở bờ Bắc sông Cầu, tiến thoái lưỡng nan. Đến đầu năm Đinh Tị (1077), chúng bị Lý Thường Kiệt mở trận quyết chiến chiến lược ở Như Nguyệt, đánh cho tan tành.
    Ấy Ià bài thơ không đề, nhưng vì câu mở đầu phiên âm Hán - Việt là Nam quốc sơn hà Nam đế cư  nên người đời thường gọi đó là bài Nam quốc sơn hà, lại cũng vì bài ấy được đọc lên lần đầu tiên ở trong đền thờ Trương Hát nên người đời cũng gọi đó là bài thơ thần.
    Lời bàn: Giữa lúc trận mạc hiểm nguy, sống chết cận kề mà vị tổng chỉ huy là Lý Thường Kiệt vẫn ung dung làm được bài thơ tuyệt vời này thì quả là vô cùng đặc biệt. Thơ đã tuyệt mà cách phổ biến thơ lại còn tuyệt hơn. Binh sĩ một lòng tin chắc rằng thần linh sông núi đang đứng về phía họ, sách trời cũng minh chứng cho đại nghĩa của họ, bảo họ không phấn khích làm sao được. Cơ trời huyền diệu, chỉ có thần nhân mới biết được, vậy thì thơ ấy, đọc ở thời điểm ấy, đọc ngay trong đền thờ ấy… tất cả đều hợp lẽ vô cùng. Hậu thế coi đó là bài thơ có giá trị như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước nhà, kể cũng phải lắm thay.
    (Theo “Việt sử giai thoại” của Nguyễn Khắc Thuần – NXB Giáo Dục)

    Hịch Tướng Sĩ - 
    Trần Hưng Đạo -ĐỨC THÁNH TRẦN


    Tiểu sử


    Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn (1228-1300) là một danh nhân quân sự cổ kim của thế giới.

    Ngay từ nhỏ, Trần Liễu đã kén những thầy giỏi dạy cho Quốc Tuấn, ký thác cho con hội đủ tài võ, mong trả mối thù sâu nặng năm nào.

    Lớn lên Quốc Tuấn càng tỏ ra thông minh, xuất chúng, đọc rộng các sách cả văn lẫn võ. Trong đời mình Quốc Tuấn đã trải qua một lần gia biến, ba lần nạn nước. Nhưng ông lại càng tỏ ra là người hiền tài, một vị anh hùnh cứu nước. Ông luôn đặt lợi nước lên trên thù nhà, vun trồng cho khối đoàn kết giữa tông tộc họ Trần, tạo cho thế nước ở đỉnh cao muôn trượng đủ sức đè bẹp quân thù. Trong lần quân Nguyên sang xâm lược lần thứ ha, thấy rõ ngành trưởng, ngành thứ xung khắc, giữa ông và Trần Quang Khải không chung sức chung lòng thì kẻ thù có lợi chỉ có thể là quân giặc. Bởi vậy, Quốc Tuấn đã chủ động giao hảo hòa hiếu với Trần Quang Khải, tạo nên sự thống nhất ý chí của toàn bộ vương triều Trần, đảm bảo đánh thắng quân Nguyên hùng mạnh.

    Chuyện kể rằng, một lần ở biển Đông, Quốc Tuấn mời Thái sư Trần Quang Khải sang thuyền mình trò chuyện chơi cờ và sai người nấu nước thơm tự mình tắm rửa cho Trần Quang Khải, vĩnh viễn xóa nỗi hiềm khích giữa hai người, đầu mối của hai chi họ Trần (Quốc Tuấn là con Trần Liễu, Quang Khải là con Trần Cảnh). Lần khác, Quốc Tuấn đem việc xích mích dò ý các con, Trần Quốc Tảng có ý kích ông nên cướp ngôi chi thứ. Ông nổi giận rút gươm toan chém chết Quốc Tảng. May nhờ các con và những người tâm phúc van xin, ông bớt giận dừng gươm nhưng bảo rằng:

    Từ nay cho tới khi ta nhắm mắt, ta sẽ không nhìn mặt thằng nghịch tử, phản thần này nữa.
    Trong kháng chiến, ông luôn hộ giá bên vua, tay chống gậy bịt sắt. Dư luận xì xào sợ Ông giết vua,. Ông liền bỏ luôn phần bịt sắt, chỉ chống gậy để tránh hiềm nghi, làm yên lòng quân dân.

    Ba lần chống giặc, các vua Trần đều giao cho ông quyền Tiết chế (Tổng tư lệnh quân đội) vì ông biết dùng người tài, thương yêu binh lính, do vậy tướng sĩ hết lòng tin yêu ông. Đạo quân cha con ấy trở thành đội quân bách chiến bách thắng.

    Trần Quốc Tuấn là bậc tướng trụ cột của triều đình. Ông đã soạn hai bộ binh thư: Binh thư yếu lược và Vạn Kiếp Tông bí truyền thư dể răn dạy các tướng cầm quân đánh giặc. Khi giặc Nguyên lộ rõ ý đồ xâm lược, Trần Quốc Tuấn viết Hịch tướng sĩ, truyền lệnh cho các tướng, dạy bảo họ lẽ thắng trận, tiến lui. Hịch tướng sĩ rất hùng hồn, thống thiết, khẳng định văn trương của một bậc "đại bút".

    Trần Quốc Tuấn là một bậc tướng gồm đủ tài đức.

    Là tướng nhân, ông thương dân thương quân, chỉ cho họ con đường sáng.
    Là tướng nghĩa, ông coi việc phải hơn điều lợi.
    Là tướng trí, ông biết lẽ đời sẽ dẫn tới đâu.
    Là tướng dũng, ông xông pha nơi nguy hiyểm để đánh giặc, tạo những trận như Bạch Đằng oanh liệt nghìn đời.
    Là tướng tín, ông bày tỏ trước cho quân lính theo ông sẽ được gì, trái lời ông thì gặp họa. Cho nên, cả 3 lần đánh giặc Nguyên, ông đều được giao trọng trách điều bát binh mã và đều lập công lớn.

    Hai tháng trước khi mất, vua Anh Tông đến thăm và hỏi:

    Nếu chẳng may ông mất đi, giặc phương Bắc lại sang xâm lấn thì kế sách làm sao?
    ông đã trăng trối những lời tâm huyết, sâu sắc, đúng cho mọi thời đại:

    - Thời bình phải khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng sách giữ nước.

    Mùa thu tháng Tám, ngày 20 năm Canh Tý (1300), "Bình Bắc đại nguyên soái" Hưng Đạo đại vương qua đời. Theo lời ông dặn, thi hài ông được hỏa táng thu vào bình đồng chôn trong vườn An Lạc, gần cánh rường An Sinh, không xây lăng mộ, đất san phẳng, trồng cây như cũ. Vua gia phong cho ông tước Hưng Đạo đại vương. Triều đình lập đền thờ ông tại Vạn Kiếp, Chí Linh, phong ấp của ông lúc sinh thời.




    Hịch Tướng Sĩ


    Bản Hán văn 



    諭諸裨將檄文
    Dụ chư tỳ tướng hịch văn


    余常聞之
    Dư thường văn chi:
    紀信以身代死而脫高帝
    Kỷ Tín dĩ thân đại tử nhi thoát Cao Đế; 
    由于以背受戈而蔽招王
    Do Vu dĩ bối thụ qua nhi tế Chiêu Vương. 
    蓣讓吞炭而復主讎
    Dự Nhượng thốn thán nhi phục chủ thù; 
    申蒯断臂而赴國難
    Thân Khoái đoạn tí nhi phó quốc nạn. 
    敬德一小生也身翼太宗而得免世充之圍
    Kính Đức nhất tiểu sinh dã, thân dực Thái Tông nhi đắc miễn Thế Sung chi vi;
    杲卿一遠臣也口罵禄山而不從逆賊之計
    Cảo Khanh nhất viễn thần dã, khẩu mạ Lộc Sơn nhi bất tòng nghịch tặc chi kế.
    自古忠臣義士以身死國何代無]之
    Tự cổ trung thần nghĩa sĩ, dĩ thân tử quốc hà đại vô chi? 
    設使數子區區為兒女子之態
    Thiết sử sổ tử khu khu vi nhi nữ tử chi thái,
    徒死牖下烏能名垂竹白
    Đồ tử dũ hạ, ô năng danh thùy trúc bạch, 
    與天地相為不朽哉
    Dữ thiên địa tương vi bất hủ tai! 

    Nhữ đẳng
    世為將種不曉文義
    Thế vi tướng chủng, bất hiểu văn nghĩa,
    其聞其說疑信相半
    Kỳ văn kỳ thuyết, nghi tín tương bán. 
    古先事姑置勿論
    Cổ tiên chi sự cô trí vật luận. 
    余以宋韃事言
    Kim dư dĩ Tống, Thát chi sự ngôn chi:
    王公堅何人也
    Vương Công Kiên hà nhân dã?
    其裨將阮文立又何人也
    Kỳ tỳ tướng Nguyễn Văn Lập hựu hà nhân dã?
    釣魚鎖鎖斗大
    Dĩ Điếu Ngư tỏa tỏa đẩu đại chi thành,
    當蒙哥堂堂百萬
    Đương Mông Kha đường đường bách vạn chi phong, 
    使宋生靈至今受賜
    Sử Tống chi sinh linh chí kim thụ tứ! 
    骨待兀郎何人也
    Cốt Đãi Ngột Lang hà nhân dã?
    其裨將赤脩思又何人也
    Kỳ tỳ tướng Xích Tu Tư hựu hà nhân dã? 
    冒瘴厲於萬里
    Mạo chướng lệ ư vạn lý chi đồ,
    獗南詔於數旬
    Quệ Nam Chiếu ư sổ tuần chi khoảnh,
    使韃君長至今留名
    Sử Thát chi quân trưởng chí kim lưu danh! 
    與汝等
    Huống dư dữ nhữ đẳng,
    生於擾攘
    Sinh ư nhiễu nhương chi thu;
    長於艱難
    Trưởng ư gian nan chi tế. 
    竊見偽使往來道途旁午
    Thiết kiến ngụy sứ vãng lai, đạo đồ bàng ngọ.
    掉鴞烏寸舌而陵辱朝廷
    Trạo hào ô chi thốn thiệt nhi lăng nhục triều đình;
    委犬羊尺軀而倨傲宰祔
    Ủy khuyển dương chi xích khu nhi cứ ngạo tể phụ. 
    托忽必列令而索玉帛以事無已誅求
    Thác Hốt Tất Liệt chi lệnh nhi sách ngọc bạch, dĩ sự vô dĩ chi tru cầu;
    假雲南王號而揫金銀以竭有限傥庫
    Giả Vân Nam Vương chi hiệu nhi khu kim ngân, dĩ kiệt hữu hạn chi thảng khố.
    譬猶以肉投餒虎寧能免遺後患也哉
    Thí do dĩ nhục đầu nỗi hổ, ninh năng miễn di hậu hoạn dã tai?
    余常
    Dư thường 
    臨餐忘食
    Lâm xan vong thực, 
    中夜撫枕
    Trung dạ phủ chẩm,
    涕泗交痍
    Thế tứ giao di,
    心腹如搗
    Tâm phúc như đảo.
    常以未能食肉寢皮絮肝飲血為恨也
    Thường dĩ vị năng thực nhục tẩm bì, nhứ can ẩm huyết vi hận dã.

    Tuy 
    余之百身高於草野
    Dư chi bách thân, cao ư thảo dã; 
    余之千屍裹於馬革 
    Dư chi thiên thi, khỏa ư mã cách, 
    亦願為之
    Diệc nguyện vi chi. 

    Nhữ đẳng
    久居門下
    Cửu cư môn hạ, 
    掌握兵權
    Chưởng ác binh quyền.
    無衣者則衣以衣
    Vô y giả tắc ý chi dĩ y;
    無食者則食以食
    Vô thực giả tắc tự chi dĩ thực.
    官卑者則遷其爵
    Quan ti giả tắc thiên kỳ tước;
    祿薄者則給其俸
    Lộc bạc giả tắc cấp kỳ bổng.
    水行給舟
    Thủy hành cấp chu;
    陸行給馬
    Lục hành cấp mã. 
    委之以兵則生死同其所為
    Ủy chi dĩ binh, tắc sinh tử đồng kỳ sở vi;
    在寢則笑語同其所樂
    Tiến chi tại tẩm, tắc tiếu ngữ đồng kỳ sở lạc.

    Kỳ thị 
    公堅為偏裨
    Công Kiên chi vi thiên tì, 
    兀郎為副貳
    Ngột Lang chi vi phó nhị,
    亦未下爾
    Diệc vị hạ nhĩ. 

    Nhữ đẳng 
    視主辱曾不為憂
    Tọa thị chủ nhục, tằng bất vi ưu; 
    當國恥曾不為愧
    Thân đương quốc sỉ, tằng bất vi quý. 
    為邦國將侍立夷宿而無忿心
    Vi bang quốc chi tướng, thị lập di tú nhi vô phẫn tâm; 
    聽太常樂宴饗偽使而無怒色
    Thính thái thường chi nhạc, yến hưởng ngụy sứ nhi vô nộ sắc. 
    鬥雞以為樂
    Hoặc đấu kê dĩ vi lạc; 
    賭博以為娛
    Hoặc đổ bác dĩ vi ngu. 
    事田園以養其家
    Hoặc sự điền viên dĩ dưỡng kỳ gia; 
    戀妻子以私於己
    Hoặc luyến thê tử dĩ tư ư kỷ. 
    修生產之業而忘軍國之務
    Tu sinh sản chi nghiệp, nhi vong quân quốc chi vụ; 
    田獵之遊而怠攻守之習
    Tứ điền liệp chi du, nhi đãi công thủ chi tập. 
    甘美酒
    Hoặc cam mỹ tửu; 
    嗜淫聲
    Hoặc thị dâm thanh. 
    脱有蒙韃之寇來
    Thoát hữu Mông Thát chi khấu lai, 
    雄雞之距不足以穿虜甲
    Hùng kê chi cự, bất túc dĩ xuyên lỗ giáp; 
    賭博之術不足以施軍謀
    Đổ bác chi thuật, bất túc dĩ thi quân mưu. 
    田園之富不足以贖千金之軀
    Ðiền viên chi phú, bất túc dĩ thục thiên kim chi khu; 
    妻拏之累不足以充軍國之用
    Thê noa chi lụy, bất túc dĩ sung quân quốc chi dụng. 
    生產之多不足以購虜首
    Sinh sản chi đa, bất túc dĩ cấu lỗ thủ; 
    獵犬之力不足以驅賊眾
    Liệp khuyển chi lực, bất túc dĩ khu tặc chúng. 
    美酒不足以沈虜軍
    Mỹ tửu bất túc dĩ trấm lỗ quân; 
    淫聲不足以聾虜耳
    Dâm thanh bất túc dĩ lung lỗ nhĩ. 
    當此之時
    Ðương thử chi thời, 
    家臣主就縛
    Ngã gia thần chủ tựu phọc, 
    甚可痛哉
    Thậm khả thống tai! 
    不唯余之采邑被削
    Bất duy dư chi thái ấp bị tước,
    而汝等之俸祿亦為他人之所有
    Nhi nhữ đẳng chi bổng lộc diệc vi tha nhân chi sở hữu; 
    不唯余之家小被驅
    Bất duy dư chi gia tiểu bị khu, 
    而汝等之妻拏亦為他人之所虜
    Nhi nhữ đẳng chi thê noa diệc vi tha nhân chi sở lỗ; 
    不唯余之祖宗社稷為他人之所踐侵
    Bất duy dư chi tổ tông xã tắc, vi tha nhân chi sở tiễn xâm, 
    而汝等之父母墳墓亦為他人之所發掘
    Nhi nhữ đẳng chi phụ mẫu phần mộ, diệc vi tha nhân chi sở phát quật; 
    不唯余之今生受辱雖百世之下臭名難洗惡謚長存
    Bất duy dư chi kim sinh thụ nhục, tuy bách thế chi hạ, xú danh nan tẩy, ác thụy trường tồn,
    而汝等之家清亦不免名為敗將矣
    Nhi nhữ đẳng chi gia thanh, diệc bất miễn danh vi bại tướng hĩ! 
    當此之時
    Ðương thử chi thời, 
    汝等雖欲肆其娛樂
    Nhữ đẳng tuy dục tứ kỳ ngu lạc, 
    得乎
    Đắc hồ? 
    今余明告汝等
    Kim dư minh cáo nhữ đẳng, 
    當以措火積薪為危
    Đương dĩ thố hỏa tích tân vi nguy; 
    當以懲羹吹虀為戒
    Đương dĩ trừng canh xuy tê vi giới. 
    訓練士卒
    Huấn luyện sĩ tốt; 
    習爾弓矢
    Tập nhĩ cung thỉ. 
    使
    Sử 
    人人逄蒙
    Nhân nhân Bàng Mông; 
    家家后羿
    Gia gia Hậu Nghệ. 
    購必烈之頭於闕下
    Cưu Tất Liệt chi đầu ư khuyết hạ; 
    朽雲南之肉於杲街
    Hủ Vân Nam chi nhục ư cảo nhai. 
    不唯余之采邑永為青氈
    Bất duy dư chi thái ấp vĩnh vi thanh chiên, 
    而汝等之俸祿亦終身之受
    Nhi nhữ đẳng chi bổng lộc diệc chung thân chi thụ tứ; 
    不唯余之家小安床褥
    Bất duy dư chi gia tiểu đắc an sàng nhục, 
    而汝等之妻拏亦百年之佳老
    Nhi nhữ đẳng chi thê noa diệc bách niên chi giai lão; 
    不唯余之宗廟萬世享祀
    Bất duy dư chi tông miếu vạn thế hưởng tự, 
    而汝等之祖父亦春秋血食
    Nhi nhữ đẳng chi tổ phụ diệc xuân thu chi huyết thực; 
    不唯余之今生得志
    Bất duy dư chi kim sinh đắc chí, 
    而汝等百世之下芳名不朽
    Nhi nhữ đẳng bách thế chi hạ, phương danh bất hủ; 
    不唯余之美謚永垂
    Bất duy dư chi mỹ thụy vĩnh thùy, 
    而汝等之姓名亦遺芳於青史矣
    Nhi nhữ đẳng chi tính danh diệc di phương ư thanh sử hĩ. 
    當此之時
    Ðương thử chi thời, 
    汝等雖欲不為娛樂
    Nhữ đẳng tuy dục bất vi ngu lạc, 
    今余
    Đắc hồ! 
    今余歷選諸家兵法一書名曰兵書要略
    Kim dư lịch tuyển chư gia binh pháp vi nhất thư, danh viết Binh thư yếu lược.
    汝等
    Nhữ đẳng 
    能專習是書受余教誨是夙世臣主也
    Hoặc năng chuyên tập thị thư, thụ dư giáo hối, thị túc thế chi thần chủ dã; 
    暴棄是書違教誨是夙世仇讎也
    Hoặc bạo khí thị thư, vi dư giáo hối, thị túc thế chi cừu thù dã. 
    何則
    Hà tắc? 
    蒙韃乃共戴天
    Mông Thát nãi bất cộng đái thiên chi thù, 
    汝等記恬然以雪恥以除凶
    Nhữ đẳng ký điềm nhiên, bất dĩ tuyết sỉ vi niệm, bất dĩ trừ hung vi tâm, 
    教士卒是倒戈迎降空拳受敵
    Nhi hựu bất giáo sĩ tốt, thị đảo qua nghênh hàng, không quyền thụ địch; 
    使平虜後萬遺羞
    Sử bình lỗ chi hậu, vạn thế di tu, 
    上有何面目立於天地覆載間耶
    Thượng hữu hà diện mục lập ư thiên địa phú tái chi gian da? 
    故欲汝等明知
    Cố dục nhữ đẳng minh tri dư tâm, 
    因筆以檄云
    Nhân bút dĩ hịch vân.




    Hịch tướng sĩ

    của Trần Hưng Đạo, người dịch: Trần Trọng Kim



    Ta thường nghe chuyện: Kỷ Tín 紀 信 liều thân chịu chết thay cho vua Cao-đế; Do Vu 由 于 lấy mình đỡ ngọn giáo cho vua Chiêu-vượng; Dư Nhượng 豫 讓 nuốt than để báo thù cho chủ; Thân Khoái 申 蒯 chặt tay để cứu nạn cho nước; Kính Đức 敬 德 là một chức quan còn nhỏ, mà liều thân cứu vua Thái-tông được thoát vòng vây; Kiểu Khanh 杲 卿 là một bề tôi ở xa, mà kể tội mắng thằng Lộc Sơn 祿 山 là quân nghịch-tặc. Các bậc trung-thần nghĩa-sĩ ngày xưa, bỏ mình vì nước, đời nào không có? Giả-sử mấy người ấy cũng cứ bo bo theo lối thường tình, chết già ở xó nhà thì sao cho lưu danh sử-sách đến nghìn muôn đời như thế được?

    Nay các ngươi vốn dòng vũ-tướng, không hiểu văn-nghĩa, nghe những chuyện cổ-tích ấy, nửa tin nửa ngờ, ta không nói làm gì nữa; ta hãy đem chuyện đời Tống, Nguyên mới rồi mà nói: Vương công Kiên 王 公 堅 là người thế nào? Tỳ-tướng của Vương công Kiên là Nguyễn văn Lập 阮 文 立 lại là người thế nào, mà giữ một thành Điếu-ngư[1] nhỏ mọn, chống với quân Mông-kha[2] kể hàng trăm vạn, khiến cho dân sự nhà Tống, đến nay còn đội ơn sâu. Đường ngột Ngại là người như thế nào? Tỳ-tướng của Đường ngột Ngại là Xích tu Tư lại là người thế nào, mà xông vào chỗ lam-chướng xa xôi, đánh được quân Nam-chiếu trong vài ba tuần, khiến cho quân-trướng đời Nguyên đến nay còn lưu tiếng tốt. Huống chi ta cùng các ngươi sinh ở đời nhiễu-nhương, gặp phải buổi gian-nan này, trông thấy những ngụy-sứ đi lại rầm-rập ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà xỉ-mắng triều-đình, đem thân dê chó mà bắt-nạt tổ-phụ, lại cậy thế Hốt tất Liệt 忽 必 烈 mà đòi ngọc-lụa, ỷ thế Vân-nam-vương[3] để vét bạc vàng; của kho có hạn, lòng tham không cùng, khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói, giữ sao cho khỏi tai-vạ về sau!

    Ta đây, ngày thì quên ăn, đêm thì quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm-tức rằng chưa được sả thịt lột da của quân giặc, dẫu thân này phơi ngoài nội cỏ, xác này gói trong da ngựa, thì cũng đành lòng. Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh-quyền, cũng đã lâu ngày, không có áo thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho ăn, quan còn nhỏ thì ta thăng thưởng, lương có ít thì ta tăng cấp, đi thủy thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa, lúc hoạn-nạn thì cùng nhau sống chết, lúc nhàn-hạ thì cùng nhau vui cười, những cách cư-xử so với Vương công Kiên, Đường ngột Ngại ngày xưa cũng chẳng kém gì.

    Nay các ngươi trông thấy chủ nhục mà không biết lo, trông thấy quốc-sỉ mà không biết thẹn, thân làm tướng phải hầu giặc, mà không biết tức, tai nghe nhạc để hiến ngụy sứ, mà không biết căm; hoặc lấy việc chọi gà làm vui-đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu-khiển, hoặc vui thú về vườn ruộng, hoặc quyến-luyến về vợ con, hoặc nghĩ về lợi riêng mà quên việc nước, hoặc ham về săn-bắn mà quên việc binh, hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát. Nếu có giặc đến, thì cựa gà trống sao cho đâm thủng được áo-giáp; mẹo cờ-bạc sao cho dùng nổi được quân-mưu; dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều, thân ấy nghìn vàng khôn chuộc; vả lại vợ bìu con díu, nước này trăm sự nghĩ sao; tiền-của đâu mà mua cho được đầu giặc; chó săn ấy thì địch sao nổi quân thù; chén rượu ngon không làm được cho giặc say chết, tiếng hát hay không làm được cho giặc điếc tai; khi bấy giờ chẳng những là thái-ấp của ta không còn, mà bổng-lộc của các ngươi cũng hết; chẳng những là gia-quyến của ta bị đuổi, mà vợ con của các ngươi cũng nguy; chẳng những là ta chịu nhục bây giờ, mà trăm năm về sau, tiếng xấu hãy còn mãi mãi; mà gia-thanh của các ngươi cũng chẳng khỏi mang tiếng nhục, đến lúc bấy giờ các ngươi dẫu muốn vui-vẻ, phỏng có được hay không?

    Nay ta bảo thật các ngươi: nên cẩn-thận như nơi củi lửa, nên giữ-gìn như kẻ húp canh, dạy-bảo quân-sĩ, luyện-tập cung tên, khiến cho người nào cũng có sức khỏe như Bàng Mông và Hậu Nghệ, thì mới có thể dẹp tan được quân giặc, mà lập nên được công-danh. Chẳng những là thái-ấp ta được vững bền, mà các ngươi cũng đều được hưởng bổng-lộc; chẳng những là gia-quyến của ta được yên-ổn, mà các ngươi cũng đều được vui với vợ con, chẳng những là tiên-nhân ta được vẻ-vang, mà các ngươi cũng được phụng-thờ tổ-phụ, trăm năm vinh-hiển; chẳng những là một mình ta được sung-sướng, mà các ngươi cũng được lưu-truyền sử sách, nghìn đời thơm-tho; đến bấy giờ các ngươi dầu không vui-vẻ, cũng tự khắc được vui-vẻ.

    Nay ta soạn hết các binh-pháp của các nhà danh-gia hợp lại làm một quyển gọi là « Binh-thư yếu-lược ». Nếu các ngươi biết chuyên-tập sách này, theo lời dạy-bảo, thì mới phải đạo thần-tử; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy-bảo, thì tức là kẻ nghịch-thù.

    Bởi cớ sao? Bởi giặc Nguyên cùng ta, là kẻ thù không đội trời chung, thế mà các ngươi cứ điềm-nhiên không nghĩ đến việc báo thù, lại không biết dạy quân-sĩ, khác nào như quay ngọn giáo mà đi theo kẻ thù, giơ tay không mà chịu thua quân giặc, khiến cho sau trận Bình-lỗ[4] mà ta phải chịu tiếng xấu muôn đời, thì còn mặt-mũi nào đứng trong trời đất nữa. Vậy nên ta phải làm ra bài hịch này để cho các ngươi biết bụng ta.


    Chú thích cuối trang

    1. ▲ Điếu-ngư là tên núi, thuộc phủ Trùng-khánh tỉnh Tứ xuyên.
    2. ▲ Mông-kha (Mungke) là vua Mông-cổ, anh Hốt tất Liệt.
    3. ▲ Khi quân Mông-cổ lấy được đất Vân nam rồi, Hốt tất Liệt phong cho con là Hốt kha Kích là Vân-nam-vương.
    4. ▲ Bình-lỗ là tên thành, nhưng sử cũ không chép rõ ở đâu và ai xây lên. Sách « Khâm-định Việt-sử » chép rằng theo bộ « Địa-dư-chí » của ông Nguyễn Trãi, thì đời nhà Lý có đào con sông Bình-lỗ để đi lên Thái-nguyên cho tiện. Vậy thành Bình-lỗ có lẽ ở vào hạt Thái-nguyên. Xem lời dặn của Trần Hưng-đạo-vương thì thành Bình-lỗ này xây vào đời Đinh hay đời Tiền-Lê, rồi Lý thường Kiệt đời Lý đã đánh quân Tống ở đó.




    Hịch Tướng Sĩ

    Bản diễn Song thất lục bát của Nguyễn Văn Bình

    Xưa Kỷ Tín liều thân chịu chết, 
    Cứu Hán Vuơng thoát khỏi Hoàng Dương 
    Do Vu cháu Sở Chiêu Vương, 
    Giơ lưng đỡ giáo tìm đường cứu vua. 
    Kìa Dự Nhượng thuở xưa người Tấn, 
    Từng nuốt than lận đận phục thù. 
    Kìa Thân Khoái một Tể Phu, 
    Chặt tay theo nạn với vua Tề. 
    Quan nhỏ nhưa Uất Trì Kính Đức, 
    Giúp Thái Tông khỏi bước trùng vi. 
    Cảo Khanh quan ở biên thùy, 
    Già mồm chửi giặc không hề tiếc thân. 
    Bậc nghĩa sĩ trung thần từ trước, 
    Từng diệt thân cứu nước có nhiều. 
    Những người kia nếu chẳng liều, 
    Chết suông như đám nữ lưu xó nhà. 
    Còn danh tiếng đâu mà chép lại, 
    Cùng kiền khôn truyền mãi không ngần. 
    Các ngươi dòng dõi vũ thần, 
    Xưa này nào có hiểu văn nghĩa gì. 
    Nghe câu chuyện bán nghi bán tin, 
    Sự muôn năm nhắc đến chi vay ? 
    Nay ta hãy nói cho hay, 
    Thử xem Tống, Thát truyện này ra sao ? 
    Vương Công Kiên người nào thế vậy ? 
    Tướng Nguyễn Văn Lập ấy người nào ? 
    Điếu ngư thằng bé tẻo teo, 
    Chống quân Mông Cổ ồn ào trăm muôn. 
    Khiến quân Tống thắng luôn mấy trận, 
    Đến bây giờ dân vẫn hàm ân. 
    Ngột Lang là tướng Đốc Quân, 
    Với Tỳ tướng Xích là nhân phẩm nào ? 
    Ngoài muôn dặm quản bao nước độc, 
    Trong mấy ngày phá rốc quân Nam. 
    Lòng vua Thát Đát đã cam, 
    Đ^ n nay lừng lẫy tiếng thơm nhường nào ? 
    Ta với ngươi sinh vào đời loạn, 
    Vừa gặp bao cơn vận hạn gian nan. 
    Sứ Nguyên lai vãng bao lần, 
    Mọi nơi đường sá muôn vàn nôn nao. 
    Triều đình bị cú diều soi mói, 
    Tể tướng thì lang sói rẻ khinh. 
    Mượn oai Hốt Liệt tranh giành, 
    Lấy bao của báu chưa đành lòng tham. 
    Cậy thế chúa Vân Nam nạt nã, 
    Đòi bạc vàng hết cả kho ta. 
    Thịt nuôi hùm đói mãi a ? 
    Sao cho thoát khỏi lo xa sau này. 
    Ta đây những hàng ngày quên bữa, 
    Lúc đêm thâu ngồi dựa gối kiêu. 
    Giọt châu tầm tã tuôn trào, 
    Như nung gan sắt, như bào lòng son. 
    Chí nhừng muốn moi gan lấy tiết, 
    Lòng những toan xẻ thịt vằm da. 
    Dù thân dầu với cỏ hoa, 
    Dù da ngựa bọc thân đà cũng vui. 
    Các người vốn là người môn thuộc 
    Được trông nom mọi việc binh cơ, 
    Áo không, ta cỡi áo cho, 
    Cơm không, ta sẻ cơm no cho lòng. 
    Quan nhỏ thì ta phong chức cả, 
    Lộc ít thì ta trả lương thêm. 
    Đi sông, ta cấp cho thuyền, 
    Đi đường, ta cũng lệnh truyền ngựa đi. 
    Cho cầm quân an nguy cùng lối, 
    Cho nằm yên, vui nói cùng hàng. 
    So Vương Kiên với Ngột Lang, 
    Đãi chư Tỳ tướng mọi người kém chi. 
    Nếu vua nhục ngươi thì chẳng đoái, 
    Mà nước nguy, ngươi lại làm ngơ, 
    Đừng hầu tướng giặc không dơ, 
    Nghe ca thết sứ vẫn trơ táo ngồi 
    Khi gà chọi, khi thời cờ bạc, 
    Cuộc vui chơi, gỡ gạc đủ trò. 
    Ruộng vườn muôn sự ấm no, 
    Vợ con vui thú riêng cho một mình. 
    Ham lập nghiệp, quên tình nhà, nước, 
    Mãi đi săn, nhác việc ngăn, ngừa. 
    Rượu chè hôm sớm say sưa, 
    Hát hay, đàn ngọt sớm trưa thỏa lòng 
    Đúng có lúc quân Mông, Thát tới, 
    Cựa gà không chọc nỗi áo da, 
    Những nghề cờ bạc tinh ma, 
    Phải đâu kế hoạch của nhà cầm quân ? 
    Ruộng nương nào đủ phần chuộc mạng, 
    Vợ con nào đủ cáng quân nhu ? 
    Của đâu chuốc được đầu thù ? 
    Chó săn đâu đủ sức khua giặc trời ? 
    Rượu ngon khó làm mồi bã giặc, 
    Hát hay không làm điếc tai thù. 
    Bây giờ chẳng sót lắm ru ? 
    Vua tôi bị trói gô một đàn ! 
    Tước ấp ta bị tan nát cả, 
    Bổng lộc người cũng chẳng còn gì 
    Gia đình ta bị đuổi đi, 
    Vợ ngươi cũng phải đến khi nhục nhằn 
    Tông xã ta, địch quân xéo đi, 
    Phần mộ ngươi cũng bị quật lên. 
    Đời ta khổ nhục liên miên, 
    Cái tên nhơ nhuốc lưu truyền mãi sau ! 
    Nhà các ngươi cũng đều mang tiếng, 
    Không khỏi làm những tướng bị thua. 
    Các ngươi đang lúc bây giờ, 
    Muốn mong vui thích như xưa được nào ? 
    Lời ta nhũ thấp ca ngươi nhớ, 
    Phải coi nằm trên lửa là nguy. 
    Kiềng canh đưa cũng thổi xùy, 
    Luyện quân sĩ tốt tập nghề đao cung. 
    Khiến ai nấy nức lòng mạnh mẽ, 
    Sức Bàn Mông, Hậu Nghệ cũng ham. 
    Bêu đầu Hốt Liệt cho cam, 
    Phơi luôn thịt chúa Vân Nam bên đường. 
    Tước ấp ta chăn thường ấm chỗ, 
    Bổng lộc ngươi hưởng có trọn đời 
    Gia đình ta được yên vui, 
    Vợ con ngươi cũng lo đời trăm năm. 
    Tông miếu ta nghìn năm hương lửa, 
    Tổ tiên ngươi muôn thuở cương thường, 
    Ta đây phỉ chí bồng tang, 
    Các ngươi dường cũng vẻ vang vô cùng. 
    Huy hiệu ta tôn sùng mãi mãi 
    Tính danh ngươi ghi với sử xanh. 
    Bấy giờ vui thú linh đình, 
    Các ngươi đều muốn buồn tênh được nào ? 
    Này binh pháp soạn theo đời trước, 
    Là "Binh Thư Yếu Lược" ban ra, 
    Các ngươi theo đúng sách ta, 
    Ấy là thần, chủ một nhà từ xưa. 
    Nếu bỏ sách thờ ơ lời dạy, 
    Ấy kẻ thù đã mấy đời nay, 
    Tại sao mà lại thế vầy ? 
    Là thù không đội trời này được chung. 
    Nếu các ngươi lòng không biết hổ, 
    Không coi đều "sát Lỗ" là cần, 
    Lại không vâng dạy luyện quân, 
    Ấy là quay giáo, bó thân quy hàng. 
    Giặn yên rồi còn mang tiếng mãi, 
    Mặt mũi nào đứng với ca cao đây ? 
    Muốn ngươi hiểu rõ lòng đây, 
    Vậy nên thảo bức hịch nầy cho nghe.

    Bình Ngô Đại Cáo -
    ĐẠI THI HÀO DÂN TỘC NGUYỄN TRAI


    Bình Ngô đại cáo là bài cáo của Nguyễn Trãi viết bằng chữ Hán vào mùa xuân năm 1428, thay lời Bình Định vương Lê Lợi để tuyên cáo kết thúc cuộc kháng chiến chống Minh, giành lại độc lập cho Đại Việt.
    Về mặt văn chương, tác phẩm được người đương thời, ngay cả hậu thế, đều rất thán phục và coi là thiên cổ hùng văn. Có nhiều ý kiến cho rằng: đây được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ 2 của Việt Nam (sau bài thơ Thần của Lý Thường Kiệt và trước bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945 của Hồ Chí Minh).
    Tác giả bài Đại Cáo này là khai quốc công thần của nhà Hậu Lê, Nguyễn Trãi. Ông tuy không tham gia khởi nghĩa Lam Sơn từ những ngày đầu, nhưng cũng theo phò Bình định Vương Lê Lợi từ khi nghĩa quân Lam Sơn còn ở thế yếu trước sự đàn áp của quân Minh, đã vạch ra nhiều kế sách giúp cho nghĩa quân Lam Sơn thu phục nhân tâm và giành được ưu thế trên chiến trường. Tương truyền, ông là người nghĩ ra kế sách viết dòng chữ “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần” (Lê Lợi làm vua, Nguyễn Trãi làm tôi thần) trên lá cây, tạo ra như một điềm trời, khẳng định về yếu tố "thiên mệnh" cho Lê Lợi, làm lòng người nhanh chóng hướng về nghĩa quân Lam Sơn.
    Sau khi lên ngôi, Lê Thái Tổ đã phong thưởng cho Nguyễn Trãi là bậc cao trọng nhất bên văn quan, ông được ban quốc tính (tức được mang họ vua, họ Lê), tước Hầu (Quan Phục Hầu) chỉ kém tước Công một bậc. Trên thực tế ông vừa là cố vấn, vừa là quân sư, nhà chính trị, tài kiêm văn võ rất thân với vua.

    Nguyễn Trãi
    Bình Ngô Đại Cáo
    Bản dịch của Ngô Tất Tố

    Thay trời hành hóa, hoàng thượng chiếu rằng,
    Từng nghe:
    Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
    Quân điếu phạt trước lo trừ bạo;
    Như nước Đại Việt ta từ trước,
    Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
    Nước non bờ cõi đã chia,
    Phong tục Bắc Nam cũng khác;
    Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần; bao đời xây nền độc lập;
    Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên; mỗi bên hùng cứ một phương;
    Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
    Song hào kiệt thời nào cũng có.
    Cho nên:
    Lưu Cung tham công nên thất bại;
    Triệu Tiết chí lớn phải vong thân;
    Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô
    Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
    Việc xưa xem xét.
    Chứng cứ còn ghi.
    Vưà rồi:
    Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
    Để trong nước lòng dân oán hận
    Quân cuồng Minh thưà cơ gây loạn
    Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh
    Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
    Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
    Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế
    Gây thù kết oán trải mấy mươi năm
    Bại nhân nghĩa nát cả đất trờị
    Nặng thuế khóa sạch không đầm núi.
    Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc,
    Ngán thay cá mập thuồng luồng.
    Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng,
    Khốn nỗi rừng sâu nước độc.
    Vét sản vật, bắt dò chim sả, chốn chốn lưới chăng.
    Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
    Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
    Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng.
    Thằng há miệng, đứa nhe răng,
    Máu mỡ bấy no nê chưa chán,
    Nay xây nhà, mai đắp đất,
    Chân tay nào phục dịch cho vừa ?
    Nặng nề những nổi phu phen
    Tan tác cả nghề canh cửi.
    Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
    Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi!
    Lòng người đều căm giận,
    Trời đất chẳng dung tha;
    Ta đây:
    Núi Lam Sơn dấy nghĩa
    Chốn hoang dã nương mình
    Ngẫm thù lớn há đội trời chung
    Căm giặc nước thề không cùng sống
    Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời
    Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.
    Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,
    Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ
    Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
    Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi
    Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
    Chính lúc quân thù đang mạnh.
    Lại ngặt vì:
    Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
    Nhân tài như lá mùa thu,
    Việc bôn tẩu thiếu kẻ đở đần,
    Nơi duy ác hiếm người bàn bạc,
    Tấm lòng cứu nước,
    Vẫn đăm đăm muốn tiến về Đông,
    Cỗ xe cầu hiền,
    Thường chăm chắm còn dành phía tả.
    Thế mà:
    Trông người, người càng vắng bóng,
    Miịt mù như nhìn chốn bể khơi.
    Tự ta, ta phải dốc lòng,
    Vội vã hơn cứu người chết đói.
    Phần vì giận quân thù ngang dọc,
    Phần vì lo vận nước khó khăn,
    Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,
    Lúc Khôi Huyện quân không một đội.
    Trời thử lòng trao cho mệnh lớn
    Ta gắng trí khắc phục gian nan.
    Nhân dân bốn cõi một nhà,
    Dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
    Tướng sĩ một lòng phụ tử,
    Hòa nước sông chén rượu ngọt ngào.
    Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh,
    Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.
    Trọn hay:
    Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
    Lấy chí nhân để thay cường bạọ
    Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
    Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.
    Sĩ khí đã hăng quuân thanh càng mạnh.
    Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,
    Lý An, Phương Chính, nín thở cầu thoát thân.
    Thừa thắng đuổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại,
    Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về.
    Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh hôi vạn dặm
    Tụy Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.
    Phúc tâm quân giặc: Trần Hiệp đã phải bêu đầu
    Mọt gian kẻ thù: Lý Lượng cũng đành bỏ mạng.
    Vương Thông gỡ thế nguy,
    Mà đám lửa cháy lại càng cháy
    Mã Anh cứu trận đánh
    Mà quân ta hăng lại càng hăng.
    Bó tay để đợi bại vong,
    Giặc đã trí cùng lực kiệt,
    Chẳng đánh mà người chịu khuất,
    Ta đây mưu phạt tâm công.
    Tưởng chúng biết lẽ ăn năn
    Nên đã thay lòng đổi dạ
    Ngờ đâu vẫn đương mưu tính
    Lại còn chuốc tội gây oan.
    Giữ ý kiến một người,
    Gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác,
    Tham công danh một lúc,
    Để cười cho tất cả thế gian.
    Bởi thế:
    Thằng nhãi con Tuyên Đức động binh không ngừng
    Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy
    Đinh mùi tháng chín,
    Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại
    Năm ấy tháng mười,
    Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang.
    Ta trước đã điều binh thủ hiểm,
    Chặt mũi tiên phong
    Sau lại sai tướng chẹn đường
    Tuyệt nguồn lương thực
    Ngày mười tháng tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế
    Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu
    Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong
    Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn.
    Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá
    Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau
    Lại thêm quân bốn mặt vây thành
    Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc
    Sĩ tốt kén người hùng hổ
    Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh
    Gươm mài đá, đá núi cũng mòn
    Voi uống nước, nước sông phải cạn.
    Dánh một trận, sạch không kình ngạc
    Đánh hai trận tan tác chim muông.
    Cơn gió to trút sạch lá khô,
    Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ.
    Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,
    Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.
    Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường
    Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước
    Ghê gớm thay! Sắc phong vân phải đổi,
    Thảm đạm thay! Ánh nhật nguyệt phải mờ.
    Bị ta chặn ở Lê Hoa,
    Quân Vân Nam nghi ngờ, khiếp vía mà vỡ mật
    Nghe Thăng thua ở Cần Trạm,
    Quân Mộc Thạnh xéo lên nhau, chạy để thoát thân.
    Suối Lãnh Câu, máu chảy thành sông,
    Nước sông nghẹn ngào tiếng khóc
    Thành Đan Xá, thây chất thành núi,
    Cỏ nội đầm đìa máu đen.
    Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp,
    Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng
    Tướng giặc bị cầm tù,
    Như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
    Thần vũ chẳng giết hại,
    Thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh
    Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền,
    Ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,
    Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa,
    Về đến nước mà vẫn tim đập chân run.
    Họ đã tham sống sợ chết mà hòa hiếu thực lòng
    Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.
    Chẳng những mưu kế kì diệu
    Cũng là chưa thấy xưa nay
    Xã tắc từ đây vững bền
    Giang sơn từ đây đổi mới
    Càn khôn bĩ rồi lại thái
    Nhật nguyệt hối rồi lại minh
    Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu
    Muôn thuở nền thái bình vững chắc
    Âu cũng nhờ trời đất tổ tông
    Linh thiêng đã lặng thầm phù trợ;
    Than ôi! Một cỗ nhung y chiến thắng,
    Nên công oanh liệt ngàn năm
    Bốn phương biển cả thanh bình,
    Ban chiếu duy tân khắp chốn.
    Xa gần bá cáo,
    Ai nấy đều hay.
    *
    *  *

    Nguyễn Trãi
    Bình Ngô Đại Cáo
    Bản diễn Nôm


    Đại thiên hành hóa hoàng thượng nhược viết.
    Cái văn:
    Nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân,
    Điếu phạt chi sư mạc tiên khứ bạo.
    Duy, ngã Đại Việt chi quốc,
    Thật vi văn hiến chi bang.
    Sơn xuyên chi phong vực kí thù,
    Nam bắc chi phong tục diệc dị.
    Tự Triệu Đinh Lý Trần chi triệu tạo ngã quốc,
    Dữ Hán Đường Tống Nguyên nhi các đế nhất phương.
    Tuy cường nhược thì hữu bất đồng,
    Nhi hào kiệt thế vị thường phạp.
    Cố Lưu Cung tham công dĩ thủ bại,
    Nhi Triệu Tiết hảo đại dĩ xúc vong.
    Toa Đô kí cầm ư Hàm Tử quan,
    Ô Mã hựu ế ư Bạch Đằng hải.
    Kê chư vãng cổ,
    Quyết hữu minh trưng.
    Khoảnh nhân Hồ chính chi phiền hà.
    Chí sử nhân tâm chi oán bạn.
    Cuồng Minh tứ khích, nhân dĩ độc ngã dân;
    Ác đảng hoài gian, cánh dĩ mại ngã quốc.
    Hân thương sinh ư ngược diệm,
    Hãm xích tử ư họa khanh.
    Khi thiên võng dân, quỷ kế cái thiên vạn trạng;
    Liên binh kết hấn nẫm ác đãi nhị thập niên.
    Bại nghĩa thương nhân, càn khôn kỉ hồ dục tức;
    Trọng khoa hậu liễm, sơn trạch mi hữu kiết di.
    Khai kim trường tái mạo lam chướng nhi phủ sơn đào sa,
    Thái minh châu tắc xúc giao long nhi căng yêu thộn hải.
    Nhiễu dân thiết huyền lộc chi hãm tịnh,
    Điễn vật chức thúy cầm chi võng la.
    Côn trùng thảo mộc giai bất đắc dĩ toại kì sinh,
    Quan quả điên liên câu bất hoạch dĩ an kì sở.
    Tuấn sinh linh chi huyết dĩ nhuận kiệt hiệt chi vẫn nha;
    Cực thổ mộc chi công dĩ sùng công tư chi giải vũ.
    Châu lí chi chinh dao trọng khốn,
    Lư diêm chi trữ trục giai không.
    Quyết Đông Hải chi thủy bất túc dĩ trạc kì ô,
    Khánh Nam Sơn chi trúc bất túc dĩ thư kì ác.
    Thần dân chi sở cộng phẫn,
    Thiên địa chi sở bất dung.
    Dư:
    Phấn tích Lam Sơn,
    Thê thân hoang dã.
    Niệm thế thù khởi khả cộng đái,
    Thệ nghịch tặc nan dữ câu sinh.
    Thống tâm tật thủ giả thùy thập dư niên,
    Thường đảm ngọa tân giả cái phi nhất nhật.
    Phát phẫn vong thực, mỗi nghiên đàm thao lược chi thư,
    Tức cổ nghiệm kim, tế suy cứu hưng vong chi lí.
    Đồ hồi chi chí
    Ngộ mị bất vong.
    Đương nghĩa kì sơ khởi chi thì,
    Chính tặc thế phương trương chi nhật.
    Nại dĩ:
    Nhân tài thu diệp,
    Tuấn kiệt thần tinh.
    Bôn tẩu tiên hậu giả kí phạp kì nhân,
    Mưu mô duy ác giả hựu quả kì trợ.
    Đặc dĩ cứu dân chi niệm, mỗi uất uất nhi dục đông;
    Cố ư đãi hiền chi xa, thường cấp cấp dĩ hư tả.
    Nhiên kì:
    Đắc nhân chi hiệu mang nhược vọng dương,
    Do kỉ chi thành thậm ư chửng nịch.
    Phẫn hung đồ chi vị diệt,
    Niệm quốc bộ chi tao truân.
    Linh Sơn chi thực tận kiêm tuần,
    Khôi Huyện chi chúng vô nhất lữ.
    Cái thiên dục khốn ngã dĩ giáng quyết nhiệm,
    Cố dữ ích lệ chí dĩ tế vu nan.
    Yết can vi kì, manh lệ chi đồ tứ tập;
    Đầu giao hưởng sĩ, phụ tử chi binh nhất tâm.
    Dĩ nhược chế cường, hoặc công nhân chi bất bị;
    Dĩ quả địch chúng thường thiết phục dĩ xuất kì.
    Tốt năng:
    Dĩ đại nghĩa nhi thắng hung tàn,
    Dĩ chí nhân nhi dị cường bạo.
    Bồ Đằng chi đình khu điện xế,
    Trà Lân chi trúc phá hôi phi.
    Sĩ khí dĩ chi ích tăng,
    Quân thanh dĩ chi đại chấn.
    Trần Trí Sơn Thọ văn phong nhi sỉ phách,
    Lý An Phương Chính giả tức dĩ thâu sinh.
    Thừa thắng trường khu, Tây Kinh kí vị ngã hữu;
    Tuyển binh tiến thủ, Đông Đô tận phục cựu cương.
    Ninh Kiều chi huyết thành xuyên, lưu tinh vạn lí;
    Tốt Động chi thi tích dã, di xú thiên niên.
    Trần Hiệp tặc chi phúc tâm, kí kiêu kì thủ;
    Lý Lượng tặc chi gian đố, hựu bạo quyết thi.
    Vương Thông lí loạn nhi phần giả ích phần,
    Mã Anh cứu đấu nhi nộ giả ích nộ.
    Bỉ trí cùng nhi lực tận, thúc thủ đãi vong;
    Ngã mưu phạt nhi tâm công, bất chiến tự khuất.
    Vị bỉ tất dị tâm nhi cải lự,
    Khởi ý phục tác nghiệt dĩ tốc cô.
    Chấp nhất kỉ chi kiến dĩ giá họa ư tha nhân,
    Tham nhất thì chi công dĩ di tiếu ư thiên hạ.
    Toại linh Tuyên Đức chi giảo đồng, độc binh vô yếm;
    Nhưng mệnh Thạnh Thăng chi nọa tướng, dĩ du cứu phần.
    Đinh vị cửu nguyệt Liễu Thăng toại dẫn binh do Khâu Ôn nhi tiến,
    Nản niên thập nguyệt Mộc Thạnh hựu phân đồ tự Vân Nam nhi lai.
    Dư tiền kí tuyển binh tái hiểm dĩ tồi kì phong,
    Dư hậu tái điều binh tiệt lộ dĩ đoạn kì thực.
    Bản nguyệt thập bát nhật Liễu Thăng vị ngã quân sở công, kế trụy ư Chi Lăng chi dã;
    Bản nguyệt nhị thập nhật Liễu Thăng hựu vị ngã quân sở bại, thân tử ư Mã An chi sơn.
    Nhị thập ngũ nhật Bảo Định bá Lương Minh trận hãm nhi táng khu,
    Nhị thập bát nhật Thượng thư Lý Khánh kế cùng nhi vẫn thủ.
    Ngã toại nghênh nhận nhi giải,
    Bỉ tự đảo qua tương công.
    Kế nhi tứ diện thiêm binh dĩ bao vi,
    Kì dĩ thập nguyệt trung tuần nhi điễn diệt.
    Viên tuyển tì hưu chi sĩ,
    Thân mệnh trảo nha chi thần.
    Ẩm tượng nhi hà thủy càn,
    Ma đao nhi sơn thạch khuyết.
    Nhất cổ nhi kình khô ngạc đoạn,
    Tái cổ nhi điểu tán quân kinh.
    Quyết hội nghĩ ư băng đê,
    Chấn cương phong ư cảo diệp.
    Đô đốc Thôi Tụ tất hành nhi tống khoản,
    Thượng thư Hoàng Phúc diện phọc dĩ tựu cầm.
    Cương thi tái Lượng Giang Lượng Sơn chi đồ,
    Chiến huyết xích Xương Giang Bình Than chi thủy.
    Phong vân vị chi biến sắc,
    Nhật nguyệt thảm dĩ vô quang.
    Kì Vân Nam binh vị ngã quân sở ách ư Lê Hoa, tự đỗng nghi hư hạt nhi tiên dĩ phá phủ;
    Kì Mộc Thạnh chúng văn Liễu Thăng vị ngã quân sở bại ư Cần Trạm, toại lận tạ bôn hội nhi cận đắc thoát thân.
    Lãnh Câu chi huyết chử phiếu, giang thủy vị chi ô yết;
    Đan Xá chi thi sơn tích, dã thảo vị chi ân hồng.
    Lưỡng lộ cứu binh kí bất toàn chủng nhi câu bại,
    Các thành cùng khấu diệc tướng giải giáp dĩ xuất hàng.
    Tặc thủ thành cầm, bỉ kí trạo ngạ hổ khất liên chi vĩ;
    Thần võ bất sát, dư diệc thể thượng đế hiếu sinh chi tâm.
    Tham tướng Phương Chính, Nội quan Mã Kỳ, tiên cấp hạm ngũ bách dư sưu, kí độ hải nhi do thả hồn phi phách tán;
    Tổng binh Vương Thông, Tham chính Mã Anh, hựu cấp mã sổ thiên dư thất, dĩ hoàn quốc nhi ích tự cổ lật tâm kinh.
    Bỉ kí uý tử tham sinh, nhi tu hảo hữu thành;
    Dư dĩ toàn quân vi thượng, nhi dục dân chi đắc tức.
    Phi duy mưu kế chi cực kì thâm viễn,
    Cái diệc cổ kim chi sở vị kiến văn.
    Xã tắc dĩ chi điện an,
    Sơn xuyên dĩ chi cải quan.
    Càn khôn kí bĩ nhi phục thái,
    Nhật nguyệt kí hối nhi phục minh.
    Vu dĩ khai vạn thế thái bình chi cơ,
    Vu dĩ tuyết thiên địa vô cùng chi sỉ.
    Thị do thiên địa tổ tông chi linh hữu
    Dĩ mặc tương âm hữu nhi trí nhiên dã
    Ô hô!
    Nhất nhung đại định, hất thành vô cạnh chi công;
    Tứ hải vĩnh thanh, đản bố duy tân chi cáo.
    Bá cáo hà nhĩ,
    Hàm sử văn tri.
    Nguyễn Trãi

    HỊCH RA TRẬN

    VUA QUANG TRUNG

    Bài thơ trước khi đánh trận Ngọc Hồi của Vua Quang Trung
                                           "Đánh cho để dài tóc

                                            Đánh cho để đen răng
                                            Đánh cho nó chích luân bất phản
                                            Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn
                                           Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ



    TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP

    Khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 2/9/1945 

    Hồ Chí Minh


    Bản tiếng Việt:

    Hỡi đồng bào cả nước,

    "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".

    Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

    Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.

    Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

    Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.

    Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.

    Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.

    Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.

    Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.

    Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

    Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.

    Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.

    Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng.

    Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.

    Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng Minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.

    Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không "bảo hộ" được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật.

    Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa. Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.

    Tuy vậy, đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.

    Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

    Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.

    Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa.

    Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.

    Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.

    Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.

    Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!

    Vì những lẽ trên, chúng tôi, chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:

    Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.


    English version:

    "All men are created equal. They are endowed by their Creator with certain inalienable rights, among these are Life, Liberty, and the pursuit of Happiness"

    This immortal statement was made in the Declaration of Independence of the United States of America m 1776. In a broader sense, this means: All the peoples on the earth are equal from birth, all the peoples have a right to live, to be happy and free.

    The Declaration of the French Revolution made in 1791 on the Rights of Man and the Citizen also states: "All men are born free and with equal rights, and must always remain free and have equal rights." Those are undeniable truths.

    Nevertheless, for more than eighty years, the French imperialists, abusing the standard of Liberty, Equality, and Fraternity, have violated our Fatherland and oppressed our fellow-citizens. They have acted contrary to the ideals of humanity and justice. In the field of politics, they have deprived our people of every democratic liberty.

    They have enforced inhuman laws; they have set up three distinct political regimes in the North, the Center and the South of Vietnam in order to wreck our national unity and prevent our people from being united.

    They have built more prisons than schools. They have mercilessly slain our patriots- they have drowned our uprisings in rivers of blood. They have fettered public opinion; they have practised obscurantism against our people. To weaken our race they have forced us to use opium and alcohol.

    In the fields of economics, they have fleeced us to the backbone, impoverished our people, and devastated our land.

    They have robbed us of our rice fields, our mines, our forests, and our raw materials. They have monopolised the issuing of bank-notes and the export trade.

    They have invented numerous unjustifiable taxes and reduced our people, especially our peasantry, to a state of extreme poverty.

    They have hampered the prospering of our national bourgeoisie; they have mercilessly exploited our workers.

    In the autumn of 1940, when the Japanese Fascists violated Indochina's territory to establish new bases in their fight against the Allies, the French imperialists went down on their bended knees and handed over our country to them.

    Thus, from that date, our people were subjected to the double yoke of the French and the Japanese. Their sufferings and miseries increased. The result was that from the end of last year to the beginning of this year, from Quang Tri province to the North of Vietnam, more than two rnillion of our fellow-citizens died from starvation. On March 9, the French troops were disarmed by the lapanese. The French colonialists either fled or surrendered, showing that not only were they incapable of "protecting" us, but that, in the span of five years, they had twice sold our country to the Japanese.

    On several occasions before March 9, the Vietminh League urged the French to ally themselves with it against the Japanese. Instead of agreeing to this proposal, the French colonialists so intensified their terrorist activities against the Vietminh members that before fleeing they massacred a great number of our political prisoners detained at Yen Bay and Cao Bang.

    Not withstanding all this, our fellow-citizens have always manifested toward the French a tolerant and humane attitude. Even after the Japanese putsch of March 1945, the Vietminh League helped many Frenchmen to cross the frontier, rescued some of them from Japanese jails, and protected French lives and property.

    From the autumn of 1940, our country had in fact ceased to be a French colony and had become a Japanese possession.

    After the Japanese had surrendered to the Allies, our whole people rose to regain our national sovereignty and to found the Democratic Republic of Vietnam.

    The truth is that we have wrested our independence from the Japanese and not from the French

    The French have fled, the Japanese have capitulated, Emperor Bao Dai has abdicated. Our people have broken the chains which for nearly a century have fettered them and have won independence for the Fatherland. Our people at the same time have overthrown the monarchic regime that has reigned supreme for dozens of centuries. In its place has been established the present Democratic Republic.

    For these reasons, we, members of the Provisional Government, representing the whole Vietnamese people, declare that from now on we break off all relations of a colonial character with France; we repeal all the international obligation that France has so far subscribed to on behalf of Vietnam and we abolish all the special rights the French have unlawfully acquired in our Fatherland.

    The whole Vietnamese people, animated by a common purpose, are determined to fight to the bitter end against any attempt by the French colonialists to reconquer their country.

    We are convinced that the Allied nations which at Tehran and San Francisco have acknowledged the principles of self-determination and equality of nations, will not refuse to acknowledge the independence of Vietnam.

    A people who have courageously opposed French domination for more than eighty years, a people who have fought side by side with the Allies against the Fascists during these last years, such a people must be free and independent.

    For these reasons, we, members of the Provisional Government of the Democratic Republic of Vietnam, solemnly declare to the world that Vietnam has the right to be a free and independent countryÑand in fact it is so already. The entire Vietnamese people are determined to mobilise all their physical and mental strength, to sacrifice their lives and property in order to safeguard their independence and liberty.








    Không có nhận xét nào:

    Đăng nhận xét